Sau kỳ nghỉ Tết, mặt bằng lãi suất huy động đã có sự phân hóa khá rõ giữa các ngân hàng. Thay vì tăng đồng loạt, thị trường đang chia thành hai nhóm rõ rệt:

  • Nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ đẩy lãi suất lên trên 7% để cạnh tranh.
  • Nhóm ngân hàng lớn giữ mặt bằng ổn định quanh 5–6%.

Điểm đáng chú ý là lãi suất cao nhất đang tập trung ở kỳ hạn 6–12 tháng trở lên. Điều này cho thấy các ngân hàng đang ưu tiên hút vốn trung – dài hạn, chuẩn bị cho nhu cầu tín dụng tăng tốc trong các quý tới.

Lãi suất cao nhất đang thuộc về nhà băng nào?

Nếu xét ở kỳ hạn 6 tháng, mức lãi suất cao nhất hiện thuộc về PGBank với 7,1%/năm. Đây là mức nổi bật nhất toàn bảng ở nhóm kỳ hạn phổ biến này.

Ở kỳ hạn 12 tháng, hai ngân hàng cùng niêm yết mức cao nhất là:

  • MBV: 7,2%/năm
  • PGBank: 7,2%/năm

Mức 7,2%/năm hiện là đỉnh của hệ thống ở kỳ hạn 1 năm.

Với kỳ hạn 18 tháng, mức cao nhất thị trường thuộc về:

  • LPBank: 7,1%/năm

Trong khi đó, nhiều ngân hàng khác cũng niêm yết trên 6,5%/năm cho kỳ hạn dài, như:

  • Bac A Bank: 6,9%/năm (18 tháng)
  • Vikki Bank: 6,7%/năm (18 tháng)
  • Techcombank: 6,95%/năm (12 tháng)
Ảnh minh họa

Nhóm Big4 đang ở đâu?

So với nhóm ngân hàng quốc doanh, mặt bằng lãi suất vẫn thấp hơn đáng kể:

  • Agribank: cao nhất 6%
  • Vietcombank: cao nhất 5,5%/năm
  • BIDV: khoảng 5,3%/năm
  • VietinBank: 5,3%/năm

Khoảng cách giữa nhóm dẫn đầu (trên 7%) và nhóm Big4 hiện lên tới gần 2 điểm %/năm.

Biểu lãi suất huy động của các ngân hàng ngày 4/3

NGÂN HÀNG

1 THÁNG

3 THÁNG

6 THÁNG

9 THÁNG

12 THÁNG

18 THÁNG

AGRIBANK

3,2

3,7

5,7

5,7

6

6

BIDV

3

3,4

4,5

4,5

5,2

5,3

VIETINBANK

3

3,4

4,5

4,5

5,2

5,3

VIETCOMBANK

4

4,5

5,5

5,5

5,5

5,5

ABBANK

3,8

4

6,3

6,3

6,3

6,3

ACB

4,3

4,65

5,2

5,3

5,7

 

BAC A BANK

4,55

4,55

6,8

6,8

6,85

6,9

BAOVIETBANK

4,75

4,75

6,2

6,2

6,25

6,25

BVBANK

4,75

4,75

6,3

6,3

6,6

7

EXIMBANK

4,6

4,7

5,4

5,3

5,3

5,8

GPBANK

3,9

4

5,55

5,65

5,85

5,85

HDBANK

4,2

4,3

5,5

5,3

5,8

6,1

KIENLONGBANK

4,4

4,4

5,7

5,4

6

5,35

LPBANK

4,7

4,75

6,8

6,8

7

7,1

MB

4,5

4,7

5,55

5,55

5,8

5,8

MBV

4,6

4,75

6,5

6,5

7,2

7,2

MSB

4,1

4,1

5,2

5,2

5,8

5,8

NAM A BANK

4,6

4,75

5,7

5,6

5,7

5,9

NCB

4,5

4,7

6,2

6,25

6,3

6,3

OCB

4,75

4,75

6,3

6,3

6,6

6,8

PGBANK

4,75

4,75

7,1

7,1

7,2

6,8

PVCOMBANK

4,75

4,75

5,8

5,8

6,1

6,8

SACOMBANK

4,6

4,6

5,9

5,9

6,1

6,1

SAIGONBANK

4,75

4,75

6

6

6,3

6,5

SCB

1,6

1,9

2,9

2,9

3,7

3,9

SEABANK

3,95

4,45

5,15

5,35

5,5

5,95

SHB

4,2

4,65

5,6

5,6

5,8

6

TECHCOMBANK

4,35

4,75

6,85

5,85

6,95

5,95

TPBANK

4,75

4,75

5,4

5,5

5,7

5,9

VCBNEO

4,75

4,75

6,2

5,45

6,4

6,2

VIB

4,75

4,75

5,7

5,8

6,5

5,9

VIET A BANK

4,6

4,75

6,1

6,1

6,2

6,3

VIETBANK

4,6

4,6

6,1

6,2

6,3

6,6

VIKKI BANK

4,7

4,7

6,5

6,5

6,6

6,7

VPBANK

4,75

4,75

6,2

6,2

6,2

6,2

Vì sao ngân hàng nhỏ “chơi lớn” đẩy lãi suất lên cao nhất hệ thống?

Việc hàng loạt ngân hàng quy mô vừa và nhỏ như PGBank, MBV hay LPBank đưa lãi suất lên 7–7,2%/năm cao nhất hệ thống không đơn thuần là “chiêu hút khách”, mà có thể đang phản ánh áp lực thật sự phía sau.

Trong cuộc chơi tiền gửi, các ngân hàng lớn nắm lợi thế rõ rệt về thương hiệu, mạng lưới và mức độ an toàn được mặc định cao hơn trong mắt người gửi tiền. Do đó, khi không thể cạnh tranh bằng quy mô hay độ phủ, nhóm ngân hàng nhỏ buộc phải chọn cách cạnh tranh trực diện bằng giá. Nói thẳng ra: không hơn về tên tuổi thì phải hấp dẫn hơn về lãi suất.

Bên cạnh đó, đầu năm luôn là thời điểm các ngân hàng lên kế hoạch tăng trưởng tín dụng và “xin room”. Nếu kỳ vọng cho vay sẽ bứt tốc ở các quý sau, họ phải chuẩn bị nguồn vốn trung – dài hạn ngay từ bây giờ. Việc tập trung đẩy lãi suất ở các kỳ hạn 6–18 tháng cho thấy mục tiêu không phải là dòng tiền ngắn hạn, mà là nguồn vốn ổn định để sẵn sàng giải ngân.

Ngoài ra, ngân hàng nhỏ thường chịu áp lực tăng trưởng mạnh hơn để cải thiện thị phần và vị thế trên thị trường. Muốn mở rộng cho vay thì phải có tiền gửi. Muốn có tiền gửi nhanh và đủ lớn thì phải chấp nhận trả chi phí vốn cao hơn. Đây là bài toán “chịu tốn kém trước, kỳ vọng lợi nhuận sau” – một nước đi mang tính đánh đổi, nhưng có thể cần thiết trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt như hiện nay.

Tuy nhiên, việc trả lãi suất cao đồng nghĩa với chi phí vốn cao. Nếu biên lãi ròng (NIM) không đủ bù đắp, lợi nhuận sẽ bị bào mòn. Vì vậy, việc đẩy lãi suất lên 7%+ cũng là một nước đi có tính toán – và không phải ngân hàng nào cũng dám làm dài hơi.

Gửi tiền lúc này nên chọn gì?

Nếu ưu tiên an toàn và thương hiệu, nhóm ngân hàng lớn vẫn là lựa chọn phổ biến.
Nếu mục tiêu là tối đa hóa lợi suất, các ngân hàng đang trả trên 7%/năm ở kỳ hạn 6–12 tháng là mức đáng cân nhắc.

Tuy nhiên, người gửi tiền cũng nên xem kỹ điều kiện áp dụng (số tiền tối thiểu, gửi online hay tại quầy) trước khi quyết định.

👉  Sau Tết, cuộc đua lãi suất đang âm thầm nóng lên – và người hưởng lợi trực tiếp chính là người gửi tiền.